Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá chình thương vụ đơn giản cho bà con
Cá chình là loài cá có sức sống mãnh liệt, có khả năng thích nghi mạnh mẽ với các loại môi trường và điều kiện nuôi. Tuy nhiên, người dân cần thực hiện đúng các kỹ thuật nuôi cá chình để thu được năng suất cao và đem lại giá trị kinh tế.

Chuẩn bị ao và giống cá chình
Chuẩn bị ao nuôi
Kích thước ao nuôi phù hợp để nuôi cá chình là 800 – 1.200m2, mức nước có độ sâu trung bình là 1,0 – 1,2m. Bờ ao cao tối thiểu 60cm, kiên cố và không rò rỉ nước. Đáy ao là đất thịt pha cát, đất thịt pha sét hoặc cát bùn. Nên xây dựng từ 2 ao nuôi trở lên để phân cỡ cá và thay nước trong quá trình nuôi. Xung quanh ao cần xây dựng rào chắn bằng tole xi măng hoặc lưới rào kiên cố để cá không bị thất thoát.
Đối với ao cũ, cần tát cạn, nạo vét bùn đất, lấp các hang hốc, bón vôi CaO từ 70 – 100kg/1.000m2 tùy theo độ pH. Phơi đáy ao khoảng 5 – 7 ngày, cho khô ráo. Với đất phèn tiềm tàng thì phơi 2 ngày rồi cấp nước để tránh hiện tượng xì phèn. Với ao mới đào, có thể bón nhiều vôi hơn và ngâm tháo phèn nhiều lần rồi giữ ở mức 20cm. Sau đó dùng dây thuốc cá xay từ 2 – 3kg/1.000m2 để diệt trừ cá tạp.
Xem ngay: Máy sấy hải sâm nâng cao giá trị gấp 2 lần
Nguồn nước cấp vào ao nuôi phải qua túi lọc mịn và đạt chất lượng tốt. Vì vậy, cần xử lý ban đầu bằng thuốc tím KMnO4 từ 2 – 4kg/1.000m3 để diệt nấm khuẩn, nấm bệnh.
Với đặc điểm sinh học ưa tối của cá chính, người dân cần gây tảo vừa để làm giảm độ trong, ngăn ánh sáng mặt trời chiếu xuống, vừa giúp ổn định chất lượng nước, đảm bảo hàm lượng oxy trong ao. Sau 2 ngày, ta tiến hành gây màu nước bằng cách tạt nước phân NPK hoặc DAP với liều lượng 1 – 2kg/1.000m3, liên tục trong 2 – 3 ngày cho tảo phát triển, tạo màu xanh cho nước. Đến khi có độ trong 30 – 40cm, pH = 7,5 – 8,5, nước có màu xanh nõn chuối thì đạt yêu cầu.

Tùy theo mật độ nuôi thả, kích cỡ giống mà bố trí hệ thống quạt nước và sục khí để cung cấp nguồn oxy hòa tan cho ao. Dưới ao đặt thêm các giá thể để cá trú ẩn, bao gồm ống nhựa kích thước 0,8 x 114mm hoặc căng lưới dây gân nhẵn, kích cỡ mắt 8 x 8cm, diện tích bằng ¼ diện tích ao, cách bờ ao 0,5m và độ cao so với đáy ao là 25cm, cố định bằng cọc.
Chọn giống và thả cá giống
Cá giống cần chọn loại khỏe mạnh, không bệnh tất, da bóng, nhiều nhớt, kích cỡ đồng đều. Người nuôi nên chọn giống tại các trại chuyên ương cá giống để đảm bảo chất lượng và đạt tỷ lệ sống cao. Trong lượng cá thả tốt nhất từ 50 – 100g/con.
Chủ yếu có 4 loại giống cá chình, trong đó có 2 loại có giá trị kinh tế cao là cá chính mun và cá chình bông. Cá chình bông được ưa chuộng ở thị trường trong nước và có giá cao hơn.
Mật độ thả phụ thuộc vào điều kiện nuôi và cỡ giống:
- Nuôi bán thâm canh (sử dụng thức ăn cá tươi, không có hệ thống tạo oxy): 5 con/10m2 hoặc 1 con/m2.
- Nuôi thâm canh (sử dụng thức ăn công nghiệp, có hệ thống tạo oxy): 4 – 10 con/m2.
Thời điểm thả cá là vào trung tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 4, khi nhiệt độ nước >13°C.
Khi mới mua về, thả cá vào bể bạt có mức nước 0,8 – 1m. Bể đặt ở vị trí thoáng mát kết hợp sục khí và tạo dòng chảy để cá thích nghi. Trước khi thả thì sát trùng với 1 trong 3 loại hóa chất:
- Thuốc tím (KMnO4) 1 – 3g/m3
- Sulphat đồng (CuSO4) 0,3 – 0,5g/m3
- Formol 1 – 3ml/m3
Hoặc ngâm cá trong nước muối 15 – 30‰ trong 15 – 30 phút.
Thời gian ngâm từ 10 – 30 phút hoặc đến khi cá có dấu hiệu khó chịu. Công đoạn tắm cá rất quan trọng vì nó giúp loại bỏ nấm bệnh, vi khuẩn và ký sinh trùng cho cá giống, đồng thời phân loại cá khỏe và cá yếu để có biện pháp chăm sóc khác nhau.
Kỹ thuật nuôi cá chình
Thức ăn nuôi cá
Thức ăn cho cá chình có 2 loại là thức ăn tươi và thức ăn công nghiệp. Thực hiện nguyên tắc cho ăn 4 định:
- Định chất
Thức ăn cần đầy đủ độ đạm cần thiết. Nếu sử dụng cá tạp thì phải tươi, có thể là cá rô phi hoặc cá biển. Cá cần sơ chế sạch, cắt vừa cỡ miệng theo từng giai đoạn. Thức ăn công nghiệp dạng bột được sản xuất tại Trung Quốc, Đài Loan tốt nhất là có hàm lượng đạm cao đến 45 – 50% nhưng có giá cả cao.
- Định lượng
Thức ăn cá tươi bằng 5 – 15%, thức ăn công nghiệp bằng 3 – 4% tổng khối lượng cá. Thả thức ăn xuống sau 20 – 30 phút cá phải ăn hết.
- Định thời gian
Ăn 1 ngày 1 lần vào lúc 8 – 9 giờ sáng lúc nắng yếu hoặc 4 – 5 giờ chiều. Đối với thức ăn công nghiệp, nên trộn đều với nước theo tỷ lệ 1kg thức ăn và 1,5 lít nước trong 5 – 10 phút bằng máy, rồi cho cá ăn trên khay sàng nổi.
- Định địa điểm
Sàng cho ăn là khung hình tròn hoặc vuông có diện tích 1m2 căn lưới nilon, mắt lưới tùy theo kích cỡ cá và phải cố định vị trí. Nên đặt sàng ở chỗ tối và kín gió. Với thức ăn tươi nên đặt sàng chìm sát đáy ao, còn thức ăn công nghiệp thì nổi trên bề mặt nước.
Quản lý môi trường ao nuôi
Cần định kỳ phân cỡ cá hoặc sang ao mới sau 6 – 8 tháng/lần để nuôi riêng cho đồng đều và lớn nhanh. Trước khi phân cỡ thì để cá nhịn đói từ 1 – 2 ngày. Thao tác phân cỡ cá cần thực hiện nhanh chóng và thời điểm thích hợp.

Về nguồn nước, cần đảm bảo đầy đủ, chủ động cấp và thay nước. Nên chọn địa điểm nuôi có nguồn nước tự lưu thông. Nước nuôi cần đạt các tiêu chuẩn:
| Nội dung kiểm định | pH | Oxy hoà tan (mg/l) | Độ muối (%) | NH3 (mg/l) | H2S (mg/l) | Fe (mg/l) | Nhiệt độ nước (độ C) |
| Phạm vi phù hợp | 7,2 – 8,0 | 5 – 10 | 0 – 0,2 | 0 | 0 | 0 – 0,05 | 25 – 28 |
Ao nuôi cá có mật độ dày thì nên lắp đặt hệ thống oxy tầng đáy và máy quạt nước, giúp cho oxy phân phối đều trong các tầng nước. Trước khi cá ăn nên mở súc đều tránh thiếu oxy cục bộ.
Với ao nước tĩnh, mật độ thưa, nên định kỳ 1 tuần thay 10% lượng nước trong ao. bắt đầu từ tháng thứ 3 – 4 trở đi và 20 – 30% ở tháng thứ 5 – 6. Nên thay nước vào lúc trời mát. Khi mưa to hoặc nắng nóng thì giảm ½ lượng thức ăn. Định kỳ diệt khuẩn 1 tháng/lần bằng thuốc tím 1,5kg/1.000m3 và tạt nước vôi sống 15 – 20kg//1.000m3 từ 10 – 15 ngày/lần để khống chế mật độ tảo và ổn định chất lượng nước.
Thời gian nuôi cá chính dài nên lượng thức ăn hòa tan dư thừa dễ khiến cho nguồn nước nhanh bị đục. Do đó, trong quá trình nuôi, người dân cần sử dụng men vi sinh định kỳ để phân hủy và làm sạch nền đáy ao, góp phần quản lý nguồn nước và phòng bệnh cho cá nuôi.
Phòng và trị bệnh
Trong quá trình nuôi, cá chình có thể mắc phải một số bệnh sau:
| Bệnh | Triệu chứng | Điều trị |
| Bệnh trắng da | Cá nổi trên mặt nước, bơi lờ đờ, chậm chạp. Trên thân có vết trắng, da lở loét. | Tắm cho cá bằng tetracyclin liều lượng 250mg/10 lít trong 20 – 30 phút. Trộn thuốc Oxytetracylin liều lượng 3 – 5kg/kg thức ăn. |
| Bệnh trùng quả dưa | Thân cá có đốm trắng như đầu ghim. Những đốm này vỡ ra các ấu trùng vào nước, tạo thành các vết loét trên thân cá, tạo điều kiện cho vi khuẩn xâm nhập. | Tắm cho cá bằng Xanh methylen 1ppm liên tục trong 3 – 4 ngày hặc dùng formalin 25 – 30 ppm trong 7 – 8 ngày. Ngoài ra, còn có thể dùng nước muối nồng độ 5 – 7‰. |
| Bệnh do nấm thủy mi | Thân cá có búi trắng là sợi nấm bám vào. Khi cá bị viêm loét thì nấm phát triển nhanh, cá hay bơi cọ sát và thành bể. | Ngâm cá trong nước muối nồng độ 5% khoảng 10 phút, sau đó thả cá vào bể nước sạch, đồng thời sát trùng bể mỗi ngày. |
Cá chình ít có bệnh. Nếu cá bỏ ăn thì nguyên nhân đến từ yếu tố môi trường và khâu tuyển chọn giống kém chất lượng. Tuy nhiên, để giảm thiểu rủi ro, người nuôi cần lưu ý một số biện pháp phòng bệnh sau:
- Chọn giống uy tín, chất lượng và kiểm tra thật kỹ trước khi mua.
- Ao nuôi phải được xử lý thật kỹ, đảm bảo các yếu tố môi trường trước khi thả giống.
- Sử dụng thức ăn tươi, không hôi thối, kém chất lượng. Nên kết hợp với vitamin C để tăng sức đề kháng.
- Thường xuyên dùng các hóa chất để xử lý nước 1 lần/tháng như Virkon 0,5kg/1000m3. Sau đó kết hợp Zeolite từ 5 – 10kg/1000m2 và cấy men vi sinh để ổn định môi trường.
Xem thêm:
- Tổng hợp các kỹ thuật nuôi cá chạch lấu cho năng suất cao
- Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá trê thương vụ năng suất cho bà con
Thu hoạch và tiêu thụ cá chình
Sau khoảng 1 năm nuôi, cá chình có thể đạt 1 – 1,5kg thì tiến hành thu hoạch. Trước khi bắt đầu, cần tháo nước trong ao xuống còn 40 – 60cm, dùng lưới kéo 2 – 3 lần trước khi xả cạn ao để bắt toàn bộ. Cần đánh bắt nhanh và hạn chế làm xây xát để tránh làm giảm chất lượng.

Cá sau khi thu hoạch thì nhốt ở bể nước sạch có sục khí khoảng 2 – 3 ngày cho cá khỏe, chịu đựng được mật độ cao. Trong quá trình đó, cá thải hết phân và một ít nhớt, giúp giảm ô nhiễm trong túi bọc, nên nâng cao tỷ lệ sống sót khi vận chuyển đến thị trường tiêu thụ.
Trước khi vận chuyển phải hạ nhiệt độ 2 – 3 lần, mỗi lên chênh lệch không quá 5 – 7oC. Nhiệt độ cuối cùng là dưới 10oC.
Gói bọc thường dùng là túi nilon 2 lớp. Cỡ túi 32 x 20 x 60cm, đủ để vận chuyển 8 – 10kg cá, nước lạnh 0,5 – 1kg và đá cục 0,5 – 1kg.
Sau khi cho cá vào túi thì cho nước và đá vào. Đẩy hết không khí trong túi ra rồi bơm oxy, sau đó buộc miệng túi. Xếp 2 túi vào 1 thùng xốp có chèn đá xung quanh. Đóng kín thùng rồi vận chuyển bằng xe lạnh.
Kỹ thuật nuôi cá chình rất đơn giản do đây là loài cá dễ sống, tính thích ứng rộng, sức đề kháng cao nên rủi ro thấp. Tuy nhiên, do nguồn cá giống chủ yếu sử dụng lưỡi câu và lưới điện để bắt từ tự nhiên, dẫn tới những ảnh hưởng không tốt đến chất lượng giống. Vì vậy, người dân nên chọn mua ở những cơ sở ương giống từ khi còn là cá con, được trại ương qua nhiều giai đoạn, đảm bảo yêu cầu chất lượng cá.

Nguyễn Mạnh Hà là Chuyên gia Giải pháp Công nghệ Chế biến với hơn 25 năm kinh nghiệm trong ngành chế tạo máy và công nghệ. Ông chuyên tư vấn giải pháp tổng thể từ lựa chọn công nghệ, thiết kế dây chuyền, tối ưu công suất đến quy hoạch nhà máy, với chuyên môn về sấy lạnh, sấy thăng hoa, cấp đông sâu, nghiền mát, cô đặc và tiệt trùng. Ông đã đồng hành cùng hàng trăm doanh nghiệp trong tối ưu sản xuất và nâng cao giá trị nông sản, thực phẩm Việt.