Hướng dẫn kỹ thuật nuôi cá mú trân châu thương vụ chất lượng cao

Đánh giá post

Kỹ thuật nuôi cá mú trân châu đang được nhiều bà con quan tâm vì đây là loài cá có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao và được đánh giá là đối tượng tiềm năng trong nuôi trồng thủy hải sản ở Việt Nam. Cá mú trân châu là con lai giữa cá mú cọp cái và cá mú nghệ đực nên có nhiều đặc điểm nổi trội được thừa hưởng từ bố mẹ.

Kỹ thuật nuôi cá mú trân châu
Cá mú trân châu có giá trị dinh dưỡng và kinh tế cao và được đánh giá là đối tượng tiềm năng trong nuôi trồng thủy hải sản ở Việt Nam

Chuẩn bị ao và giống cá mú trân châu

Chuẩn bị ao nuôi

Người dân nên nuôi cá ở nơi có địa hình thuận tiện, nguồn nước ổn định, chất nước tốt. Biên độ giao động thủy triều từ 2 – 3m. Chất đất nên là đất sét, sét pha cát.

Ao nuôi có diện tích phù hợp là 2.000 – 5.000m2. Độ sâu của ao từ 1.5 – 2.0m. Ao cần có hệ thống cấp và thoát nước được thiết kế riêng biệt. Đáy ao bằng phẳng và hơi nghiêng về phía cổng.

Trước khi thả cá, cần tháo cạn ao, vét bùn dưới đáy, bón vôi bột để khử trùng với lương 1.000kg/ha (ao chua phèn có thể lên đến 3.000kg/ha). Sau đó phơi đáy ao từ 1 – 2 tuần.

Nước bơm vào ao cần phải qua lưới lọc với mật độ mắt lưới là 40 mắt/cm2 để ngăn sinh vật tạp vào ao. Bơm nước 2 – 3 ngày thì thả cá được.

Chọn giống và thả cá giống

Cá giống nên chọn con không dị tật, mà sắc tươi sáng, không xây xát, lở loét trên thân, bơi lội nhanh nhẹn. Kích cỡ đồng đều, từ 10 – 12cm là tốt nhất.

Theo khuyến cáo của Sở NN&PTNT, mùa vụ thả cá giống là tháng 3 – 4 hàng năm, nên thả vào sáng sớm hoặc chiều mát, mật độ thả 1 – 3 con/m2.

Trước khi thả, cần cho cá tắm nước ngọt hoặc formalin nồng độ 20ppm từ 10 – 15 phút. Trong quá trình tắm phải sục khí đề phòng thiếu oxy.

Kỹ thuật nuôi cá mú trân châu

Quản lý thức ăn

Sau khi thả cá vài ngày thì mới từ từ thả thức ăn vào cho cá. Ban đầu, cho cá ăn sinh vật sống, mỗi ngày 2 lần vào buổi sáng sớm (8h) và chiều tối (17 – 18h). Lượng thức ăn khoảng 5 – 10% trọng lượng cá.

Khi cá lớn hơn, người nuôi có thể dùng cám viên công nghiệp làm thức ăn. Lượng cho ăn theo hướng dẫn của mỗi loại. Khi cho ăn phải rải đều, tránh cho ăn quá nhiều hoặc quá ít.

Thức ăn công nghiệp dạng viên có độ đạm tối thiểu 40%, cần bảo quản nơi khô ráo và không bị ẩm mốc.

Bên cạnh đó, cần trộn vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn của cá định kỳ 5 ngày để tăng sức đề kháng.

Kỹ thuật nuôi cá mú trân châu
Cần trộn vitamin C và men tiêu hóa vào thức ăn của cá định kỳ 5 ngày để tăng sức đề kháng

Quản lý môi trường ao nuôi

Trong quá trình nuôi cá mú trân châu, cần thường xuyên kiểm tra để đảm bảo sự ổn định của các chỉ tiêu đối với môi trường nước như:

  • pH: 7,5 – 8,5, dao động pH ngày – đêm không quá 0.5.
  • Độ kiềm: 80 – 160 mg/l.
  • NH3 <0,1 mg/l.
  • H2S <0,03 mg/l. + DO >5mg/l.
  • Độ mặn: 10 – 20%.
  • Độ trong: 30 cm.

Trong ao cá có bố trí các ống nhựa đường kính 10 – 20cm để cá trú ẩn, hạn chế tấn công nhau gây xây xát. Quan sát nếu có cá lớn trội hơn phải tách ra nuôi riêng để tránh cá lớn cắn cá bé. 

Cần theo dõi chất lượng nước thủy triều và nước trong ao để tiến hành thay nước. Thay định kỳ hàng tháng 20 – 30% lượng nước ao. Đồng thời, bón vi sinh cho ao 1 lần để hạn chế ô nhiễm môi trường ao nuôi. Nếu thấy màu nước ao thay đổi thì có thể là dấu hiệu bệnh, cần thay nước ngay để xử lý kịp thời.

Từ tháng thứ 2, cần cấp thêm quạt nước để tăng oxy cho cá. Quạt có công suất 1kW, 1 bộ dàn (4 cánh)/1.000m2. 

Phòng và trị bệnh

Một số bệnh cần cá mú trân châu hay mắc phải:

Bệnh Dấu hiệu Nguyên nhân Cách trị
Bệnh do vi khuẩn Vây bị rữa, xuất huyết dưới da, có khối u. Màu sắc đậm, mắt đục, mắt lồi có xuất huyết hoặc không. Cá chết ở đáy. Mật độ nuôi quá cao, chất lượng dinh dưỡng và nước kém. Nhiễm ký sinh trùng và chúng tạo vết thương khiến vi khuẩn xâm nhập.  Duy trì mật độ cá thích hợp. Duy trì sự lưu thông nước cho ao nuôi bằng cách vệ sinh và thay nước để giảm thiểu sinh vật gây hại. Thức ăn tươi hoặc nhân tạo cho cá phải được bảo quản tốt.

Cá bị bệnh phải tắm trong nước ngọt, không quá 15 phút. Tắm nhanh bằng dung dịch formalin và iodine.

Bệnh do ký sinh trùng Cá tập trung tại mặt nước hoặc gần nơi sục khí. Mang có màu nhạt. Màu sắc của thân đậm hơn, xuất hiện đốm như nhung. Da và mang cá bị hoại tử. Cá chết nhiều. Do các loại ký sinh trùng. Tắm cá bằng Sulfat đồng, hàm lượng 0,5ppm trong 3 – 5 ngày, sục khí mạnh. Thay nước và hóa chất hàng ngày hoặc tắm cho cá bằng Formalin, hàm lượng 200ppm trong 1 giờ, sục khí mạnh. Chuyển cá vào bể nước sạch 2 lần trong 3 giờ xử lý.
Trùng lông tơ Xuất hiện các chấm trắng trên da cá. Cá cọ mình vào các vật cứng khi bơi. Trên thân cá xuất hiện nốt nhầy. Trùng lông tơ ký sinh trên da cá. Tắm 0,5ppm CuSO4 hoặc 25ppm Formalin trong 5 – 7 ngày, sục khí mạnh, thay nước đã xử lý và hóa chất hàng ngày. Chuyển cá đã xử lý vào bể nước sạch 2 lần trong vòng 3 ngày.

Cần quan sát các hoạt động bơi lội và tình trạng ăn của cá hàng ngày để phát hiện bệnh. Thường xuyên vệ sinh sạch sẽ môi trường và các dụng cụ vớt cá, vận chuyển. Đồng thời, áp dụng các biện pháp phòng bệnh tổng hợp của đối tượng thủy sản.

Thu hoạch và tiêu thụ cá mú trân châu

Cá mú có thể thu hoạch sau 6 – 8 tháng, cá đạt trọng lượng 0,5 – 0,8kg/con. Cần đảm bảo thu hoạch xong trước khi trời lạnh.

Kỹ thuật nuôi cá mú trân châu
Cá mú có thể thu hoạch sau 6 – 8 tháng, cá đạt trọng lượng 0,5 – 0,8kg/con

Trong quá trình thu hoạch, nên có bể giữ cá với hệ thống sục khí mạnh để cá quen với môi trường chật hẹp nhằm giảm tỷ lệ hao hụt. Cũng có thể thả đá lạnh vào bể giữ để hạn chế cho cá hoạt động, tránh xây xát, nâng cao giá trị thương phẩm.

Xem thêm:

Kỹ thuật nuôi cá mú trân châu phải được thực hiện đầy đủ và chính xác nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, mang lại nhiều lợi ích cho người nuôi trồng.

Bài viết liên quan

Đăng ký tư vấn